Thuốc trị bệnh phụ khoa

Ở nữ giới, bộ phận âm hộ, âm đạo, tử cung dễ bị nhiễm nhiều loại bệnh như viêm do tiếp xúc, nấm, trùng roi (trichomonas vaginalis), chlamydia, virut, lichen, do dùng thuốc tránh thai, lây qua đường tình dục, ung thư, do tạp khuẩn... Viêm âm hộ, âm đạo, cổ tử cung thường đi kèm với nhau. Trong các trường hợp bệnh phụ khoa thì có tới 1/3 trường hợp nhiễm nấm âm đạo candida hoặc trichomonas và có tới 50% trường hợp viêm do tạp khuẩn, chủ yếu là vi khuẩn yếm khí gardnerellavaginalis.



Bệnh do tạp khuẩn


Có tới 50% trường hợp viêm do tạp khuẩn yếm khí được gọi là gardnerella vaginalis. Chúng ít gây triệu chứng ở âm hộ, âm đạo, ít ngứa, không đau nhưng khí hư nhiều làm ẩm ướt âm hộ. Vì không có triệu chứng cấp nên quen với hiện tượng khí hư nhiều. Khí hư không có mùi, nhưng nếu nhỏ kalihydroxyd thì bốc mùi tanh giống như mùi cá ươn.


Có nhiều thuốc để điều trị tạp khuẩn như metronidazol, clindamycin uống và đặt hoặc bôi. Thuốc có thể gây nhức đầu, chóng mặt, rối loạn thị giác, mất ngủ, co giật, ban đỏ, ngứa, cảm quang. Thuốc gây cốt hóa sụn sớm vì vậy không dùng cho trẻ dưới 17 tuổi. Thuốc có thể gây đau gân cơ, có trường hợp đứt gân gót (achille) nhưng hiếm.


Lưu ý rằng với người mang thai, nếu viêm âm đạo do tạp khuẩn cần điều trị vì có thể vỡ ối non hoặc viêm nội mạc tử cung sau đẻ. Có thể dùng kem clindamycin bôi hoặc uống tùy chỉ định của thầy thuốc chuyên khoa.


Bệnh do trichomonas vaginalis


Bệnh nhân ngứa dữ dội và đau, đái khó, đái nhiều lần, thường đi kèm với viêm bàng quang. âm đạo tấy đỏ, cổ tử cung nổi đốm đỏ như dâu tây, khí hư loãng màu xanh vàng (hoặc màu khác), có bọt. Khí hư ra nhiều làm ẩm ướt, mùi hôi.


Chẩn đoán xác định, lấy khí hư phết lên lam kính, soi tươi có nước muối sinh lý sẽ thấy trichomonas di động. Việc nuôi cấy có độ nhạy và đặc hiệu nhưng kỹ thuật này không thực tế.

Thuốc điều trị là những thuốc dẫn xuất imidazol.


Chống chỉ định: Uống rượu, vì gây hiệu ứng antabuse (rượu tạo nên một tỷ lệ bất thường antaldehyd tích lũy ở mô (ức chế enzym), tăng vận mạch, giãn mạch nặng, nhịp tim nhanh, buồn nôn, nôn, phát ban da, gây hạ huyết áp, có thể trụy tim mạch và tử vong) hoặc gây rối loạn tâm thần và cơn hoang tưởng cấp (với disulfiram), quá mẫn với thuốc.


Thuốc có thể gây buồn nôn, nôn, chán ăn, tiêu chảy. Thay đổi vị giác (mùi kim loại). Cơn đỏ bừng mặt, nhức đầu, chóng mặt. Có thể gây nặng thêm bệnh thần kinh trung ương và ngoại biên nghiêm trọng. Dùng liều cao kéo dài có thể giảm bạch cầu. Nước tiểu nhuộm màu đỏ.


Điều cần lưu ý là phải điều trị cho cả hai hoặc là chồng (hoặc bạn tình) để tránh tái phát. Với người mang thai, chỉ được sử dụng từ quý 2 của thời kỳ thai nghén với bệnh nhân nặng. Việc đặt thuốc âm đạo ở thời kỳ này chỉ có tác dụng trên triệu chứng chứ không triệt để.


- Không nên dùng cho người nuôi con bú.

- Nếu thấy mất điều hòa, rối loạn tâm thần thì ngừng thuốc.

- Trong tất cả các trường hợp điều trị phụ khoa đều phải kiêng giao hợp cho đến khi khỏi hoàn toàn.


Bệnh do nấm


Triệu chứng chính là ngứa và khí hư như phomat bám vào thành âm đạo, có thể thấy bỏng và rát. Dễ dàng xác định khi soi có kali hydroxyd thấy nhiều sợi nấm. Cũng có nhiều trường hợp có triệu chứng nhưng khi soi và nuôi cấy lại dương tính. Có trường hợp như nghi ngờ do nấm candida glabrata và thể bào tử cần nhuộm gram, trường hợp này phải điều trị khá lâu dài.


Hiện nay có nhiều thuốc trị nấm âm đạo: với nhiều dạng thuốc như kem, viên đặt, viên uống, thuốc mỡ, thuốc đạn. Thuốc còn có nhiều dạng phối hợp với các corticoid như dexamethason hoặc với kháng sinh như metronidazol, chloramphenicol, neomycin... để tăng cường hiệu lực.


Thuốc có chống chỉ định trong trường hợp quá mẫn, mang thai, một số thuốc có chống chỉ định với người suy thận, gan, nuôi con bú (tùy thuộc vào thuốc dùng tại chỗ hay đường toàn thân). Tác dụng phụ: có thể thấy, nếu dùng tại chỗ như ban đỏ, ngứa, cảm giác rát bỏng, kim chích. Với thuốc uống có thể gây đau đầu, phản ứng thuốc, nhiễm độc đường tiêu hóa.


Nước ta là nước khí hậu nhiệt đới, ẩm độ cao, môi trường chưa sạch, đặc biệt là môi trường lao động của nhiều chị em phải ngâm mình dưới nước (nông nghiệp, ngư nghiệp), vệ sinh... Vì vậy, cần được phát hiện sớm, chữa trị kịp thời, tránh để bệnh chuyển thành mạn tính, đặc biệt là biến chứng tới các nơi khác của bộ phận sinh dục.


(Theo Sức khoẻ 360)

66/4